Quyền đối với tài sản trên đất được tặng cho? - Quyen doi voi tai san tren dat duoc tang cho

Hỏi đápTư vấn tranh chấp bất động sản

Quyền đối với tài sản trên đất được tặng cho?
Xin chào Luật Đào Nguyễn, tôi có câu hỏi xin được giải đáp như sau: Tôi tên Trung sinh năm 1987, Tôi được họ cho một lô đất (hợp lệ).
Nhưng trên lô đất đó có 2 cây dừa và 1 cây xoài do người khác trồng trước đó (khoảng hơn 10 năm,và có trái), vậy Tôi có thể yêu cầu người đó chặt cây mà Tôi không phải bồi thường gì hay không? Hay nếu có bồi thường thì bao nhiêu, và chi phí chặt cây bên nào chịu? Và một vấn đề nữa là Tôi có 1 lô đất khác nằm trong diện giải tỏa, vậy Tôi có được bán hay sang tên chuyển nhượng gì không a! Mong luật sư dành ít thời gian tư vấn giúp Tôi. Tôi chân thành cảm ơn.

Công ty Luật TNHH MINH KHUÊ xin gửi tới quý khách hàng lời chào trân trọng và cảm ơn quý khách đã tin tưởng vào dịch vụ do chúng tôi cung cấp. Vấn đề bạn đang vướng mắc chúng tôi xin được tư vấn như sau:

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Đào Nguyễn. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:
 
Căn cứ pháp lý:
 
- Bộ luật Dân sự 2005
 
- Luật Đất đai 2013
 
Nội dung trả lời:
 
Theo như bạn trình bày thì chúng tôi không thể biết việc tặng cho bất động sản của bạn có "hợp pháp" hay không. Do đó có hai trường hợp có thể xảy ra:
 
Một là, hình thức hợp đồng tặng cho đúng quy định của pháp luật (Điều 467 BLDS 2005) và bạn đã tiến hành đăng ký sang tên bạn tại Văn phòng đăng ký đất đai.
 
Điều 467 BLDS 2005 quy định về tặng cho bất động sản như sau:
 
"1. Tặng cho bất động sản phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực hoặc phải đăng ký, nếu theo quy định của pháp luật bất động sản phải đăng ký quyền sở hữu.
 
2. Hợp đồng tặng cho bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký; nếu bất động sản không phải đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời điểm chuyển giao tài sản."
 
Như vậy, nếu bạn đã đăng ký sang tên bạn đối với lô đất này theo đúng quy định thì lô đất này đã thuộc quyền sử dụng của bạn và các tài sản gắn liền với đất cũng đã thuộc quyền sở hữu của bạn. Do đó, bạn có thể chặt cây trên đất của bạn mà không nhất thiết phải hỏi ý kiến chủ cũ của lô đất và chi phí chặt cây đương nhiên sẽ do bạn trả và bạn sẽ không phải bồi thường thiệt hại gì cho chủ cũ nếu không gây ra thiệt hại cho người này.
 
Hai là, hình thức hợp đồng không được thực hiện đúng theo quy định tại Điều 467 BLDS 2005.
 
Nếu hợp đồng tặng cho giữa bạn và người cho đất không được công chứng, chứng thực thì hợp đồng này bị coi là vô hiệu về hình thức; do đó đương nhiên bạn sẽ không có quyền gì đối với lô đất này và người định cho bạn lô đất này vẫn là người đang có quyền sử dụng lô đất. Và trong trường hợp này, bạn chỉ có quyền yêu cầu chủ lô đất chặt cây trong trường hợp quy định tại Điều 272 BLDS 2005 như sau:
 
"Điều 272. Quyền yêu cầu sửa chữa, phá dỡ bất động sản liền kề
 
Trong trường hợp cây cối, công trình xây dựng có nguy cơ sập đổ xuống bất động sản liền kề hoặc nơi sinh hoạt công cộng thì chủ sở hữu phải chặt cây, sửa chữa hoặc phá dỡ công trình xây dựng đó.
 
Chủ sở hữu bất động sản liền kề có quyền yêu cầu chủ sở hữu cây cối, công trình xây dựng có nguy cơ sập đổ phải chặt cây, phá dỡ; nếu người đó không chặt cây, phá dỡ thì chủ sở hữu bất động sản liền kề có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho chặt cây, phá dỡ. Chi phí chặt cây, phá dỡ do chủ sở hữu cây cối, công trình xây dựng chịu."
 
Như vậy, theo quy định trên thì bạn chỉ có quyền yêu cầu chủ lô đất chặt cây trong trường hợp nhận thấy cây cối có nguy cơ đổ xuống bất động sản của bạn hoặc nơi sinh hoạt công cộng. Chi phí chặt cây sẽ do chủ sở hữu cây cối chịu và trong trường hợp này bạn sẽ không phải bồi thường thiệt hại.
 
* Chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với đất trong diện giải tỏa
 
Điều 188 Luật Đất đai 2013 quy định về điều kiện thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất như sau:
 
"1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sau đây:
 
a) Có Giấy chứng nhận, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 186 và trường hợp nhận thừa kế quy định tại khoản 1 Điều 168 của Luật này;
 
b) Đất không có tranh chấp;
 
c) Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;
 
d) Trong thời hạn sử dụng đất.
 
2. Ngoài các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này, người sử dụng đất khi thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; quyền thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất còn phải có đủ điều kiện theo quy định tại các điều 189, 190, 191, 192, 193 và 194 của Luật này.
 
3. Việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính."
 
Và Khoản 2 Điều 49 Luật Đất đai 2013 có quy định về việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất như sau:
 
"Trường hợp quy hoạch sử dụng đất đã được công bố mà chưa có kế hoạch sử dụng đất hàng năm cấp huyện thì người sử dụng đất được tiếp tục sử dụng và được thực hiện các quyền của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
 
Trường hợp đã có kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện thì người sử dụng đất trong khu vực phải chuyển mục đích sử dụng đất và thu hồi đất theo kế hoạch được tiếp tục thực hiện các quyền của người sử dụng đất nhưng không được xây dựng mới nhà ở, công trình, trồng cây lâu năm; nếu người sử dụng đất có nhu cầu cải tạo, sửa chữa nhà ở, công trình hiện có thì phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép theo quy định của pháp luật."
 
Mặt khác, Điều 67 Luật Đất đai 2013 có quy định về thông báo thu hồi đất và chấp hành quyết định thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng như sau:
 
"1. Trước khi có quyết định thu hồi đất, chậm nhất là 90 ngày đối với đất nông nghiệp và 180 ngày đối với đất phi nông nghiệp, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải thông báo thu hồi đất cho người có đất thu hồi biết. Nội dung thông báo thu hồi đất bao gồm kế hoạch thu hồi đất, điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm.
 
2. Trường hợp người sử dụng đất trong khu vực thu hồi đất đồng ý để cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi đất trước thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này thì Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền quyết định thu hồi đất mà không phải chờ đến hết thời hạn thông báo thu hồi đất.
 
3. Người có đất thu hồi có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng trong quá trình điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm, xây dựng phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
 
4. Khi quyết định thu hồi đất có hiệu lực thi hành và phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt được công bố công khai, người có đất thu hồi phải chấp hành quyết định thu hồi đất."
 
Như vậy, căn cứ vào các quy định trên thì có 02 trường hợp xảy ra:
 
Một là, đất trong diện quy hoạch nhưng chưa có kế hoạch sử dụng đất, chưa có thông báo hoặc quyết định thu hồi thì trường hợp này bạn sẽ được tiếp tục sử dụng và được thực hiện các quyền của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật (trong đó có quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất).
 
Hai là, mảnh đất của bạn đã có thông báo hoặc quyết định thu hồi đất thì trường hợp này bạn sẽ không có quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất nữa.
 
Trường hợp bạn muốn chuyển nhượng căn nhà và thửa đất đó thì bạn cần phải làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và nhà ở gắn liền với đất, bước tiếp theo sẽ làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và nhà ở gắn liền với đất đó.
 
Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về vấn đề mà bạn đang quan tâm. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra bản tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.
Các câu hỏi trợ giúp khác

quaylai
tiep